Đẩy mạnh phát triển và sử dụng phân bón hữu cơ trong nông nghiệp

  • 28/07/2021
  • 342 đã xem
  • Bình luận

Sản xuất nông nghiệp ngày nay dần trờ thành tiêu điểm quan tâm không những trên phạm vi quốc gia mà còn trên qui mô toàn cầu.

1. Nông nghiệp sạch - vai trò của phân hữu cơ vi sinh trong cải thiện năng suất và chất lượng nông sản

Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khoẻ con người và vật nuôi.

Trước nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực, việc lạm dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật nhằm nâng cao năng suất cây trồng đang trở thành vấn đề cần được quan tâm cải thiện. Bện cạnh việc bảo đảm mục tiêu anh ninh lương thực, cần chú ý phát triển nền nông nghiệp sạch nhằm đóng góp vào việc cung cấp các sản phẩm an toàn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Việc canh tác nông nghiệp sạch không những giúp nông dân tiết kiệm chi phí thuốc trừ sâu và phân hoá học đồng thời có thể đa dạng hoá mùa vụ và canh tác theo hướng bền vững. Hơn nữa, nếu nông sản được chứng nhận là sản phẩm hữu cơ còn có thể xuất khẩu với giá cao hơn.

Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), nền nông nghiệp hữu cơ có khả năng đảm bảo đủ nguồn cung cấp lương thực nuôi sống dân số trên thế giới hiện nay song song với việc giảm thiểu những tác động có hại cho môi trường.

Các nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ do IFOAM (International Federation of Organic Agriculture Movements) trình bày năm 1992 như sau:

-  Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng;

-  Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cây trồng và vật nuôi;

-  Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn;

-  Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức tại đại phương;

-  Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra;

-  Duy trì đa dạng hóa gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã.

2. Phân hữu cơ vi sinh trong đặc tính sinh học đất

Phân bón hữu cơ có bổ sung vi sinh vật có lợi là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn qui định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.       Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Bên cạnh việc cải thiện năng suất cây trồng cũng như phẩm chất nông sản (mà biểu hiện rõ nhất thông qua chỉ số dư tồn nitrate trong sản phẩm), hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh còn thể hiện qua việc cải thiện tính chất đất bao gồm đặc tính vật lý, hoá học và sinh học đất.

Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong đất. Phần lớn vi sinh vật trong đất thuộc nhóm hoại sinh. Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa và thải thực vật. Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại và kiềm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại.

Duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất chủ yếu là bảo vệ và cân bằng vi sinh vật có ích, cũng như các loài thiên địch có lợi trên đồng ruộng. Do đó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất cũng như các nguồn vi sinh vật có lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển hạn chế mầm bệnh. Việc bón phân hữu cơ có bổ sung nguồn vi sinh vật đất như nấm Trichoderma sẽ làm giảm tác nhân gây bệnh thối rễ, bổ sung các nguồn vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân, tăng cường nguồn phân đạm cố định được và các hợp chất lân kém hoà tan trong đất trở thành những dạng hữu dụng, dễ tiêu cho cây trồng.

Canh tác nông nghiệp sạch chú trọng việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh hạn chế hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón hoá học góp phần cải thiện chất lượng nông sản, độ phì nhiêu của đất, đảm bảo nhu cầu phát triển bền vững trong khi vẫn đảm bảo khả năng duy trì năng suất cây trồng. Việc kết hợp nấm Trichoderma trong phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ cây trồng trong việc phòng trừ bệnh như bệnh héo rũ trên dây dưa leo. Ngoài ra, các chủng vi sinh vật có ích khác khi được bổ sung vào phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện độ phì tự nhiên của đất, giảm chi phí do phân bón vô cơ. Hàm lượng carbon cao và có chất lượng trong phân hữu cơ vi sinh còn giúp cải thiện tính bền vật lý đất và hấp phụ một số nguyên tố gây bất lợi cho cây trồng. Vì thế nông dân cần chịu khó tự ủ phân hữu cơ kết hợp thêm các dòng vi khuẩn, nấm có lợi để bón vào đất trong canh tác.

3. Đẩy mạnh phát triển và sử dụng phân bón hữu cơ

Theo Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển phân bón hữu cơ. Mỗi năm có khoảng 200 triệu tấn chất thải hữu cơ từ sản xuất chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản, rác thải sinh hoạt, công nghiệp chế biến… Trong đó, sản xuất chăn nuôi trong nước  tạo ra khoảng 85 triệu tấn chất thải rắn. Sản xuất trồng trọt hằng năm tạo ra hơn 65 triệu tấn phụ phẩm. Công nghiệp chế biến các loại thực vật, động vật, thủy sản như bã cà-phê, mía, xương động vật, cua, ghẹ… cũng thải ra vài triệu tấn chất thải hữu cơ mỗi năm. Đây chính là những nguồn nguyên liệu tiềm năng rất lớn để sản xuất phân hữu cơ.

Mặc dù có nhiều tiềm năng và lợi ích, nhưng tỷ lệ sử dụng sản phẩm phân hữu cơ ở nước ta hiện nay còn thấp. Lý giải về điều này, Cục Bảo vệ thực vật cho rằng, do áp lực thâm canh tăng năng suất và những tiện lợi như gọn nhẹ, tác động nhanh đến quá trình sinh trưởng của cây trồng, cho nên 30 năm qua, ở nước ta, người dân chủ yếu vẫn sử dụng phân bón vô cơ. Theo nhiều hộ dân, sản xuất phân hữu cơ mất nhiều thời gian và nhân công để thu gom, xử lý nguyên liệu và chờ đợi nguyên liệu phân hủy. Vì vậy, dù nhận thức việc tự sản xuất phân hữu cơ bón cho cây trồng là giải pháp hiệu quả, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường, tuy nhiên không phải hộ nào cũng có thể tự sản xuất được. Bên cạnh đó, chủng loại các mặt hàng phân bón hữu cơ còn ít, giá bán lại khá cao, trong khi loại phân này tác động vào cây trồng lại chậm cũng khiến cho người dân còn e ngại khi sử dụng. Nhiều người dân chưa có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu về các mô hình sử dụng phân hữu cơ cân đối, hiệu quả, phù hợp từng loại đất, đối tượng cây trồng, mùa vụ và thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau của cây để thấy được hiệu quả và giá trị của việc sử dụng phân bón hữu cơ…

Để nâng cao hiệu quả sử dụng phân hữu cơ, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật cho rằng, cơ quan chức năng tại các địa phương phải ban hành cơ chế hỗ trợ, khuyến khích sản xuất, sử dụng phân bón hữu cơ ở quy mô nông hộ trên địa bàn. Hiện nay, nhiều nông hộ e ngại việc sử dụng phân hữu cơ vì lý do cồng kềnh, phát sinh chi phí vận chuyển, hiệu quả và tác dụng đối với cây trồng chậm. Do vậy, để tăng hiệu suất sử dụng phân bón hữu cơ, cần tiến hành chuyển giao việc sản xuất phân bón hữu cơ từ các phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến, rác thải sinh hoạt ở quy mô nông hộ. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển giao các công nghệ tiên tiến vào sản xuất phân bón hữu cơ tạo ra những sản phẩm phân bón chất lượng, trong đó ưu tiên công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, các công nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bón hữu cơ phải được ưu tiên, hưởng lợi từ các chính sách khuyến khích đầu tư đã được ban hành.

tổng hợp

Thông báo

Đăng nhập


Đăng nhập